Net zero là gì
Theo bảng thuật ngữ báo cáo AR6 của IPCC (2021), net zero khí nhà kính là khi phát thải do con người gây ra được cân bằng bởi lượng hấp thụ do con người tạo ra trong một giai đoạn xác định. Tức là vẫn còn phát thải, nhưng phần còn lại phải được rừng, đất hoặc công nghệ thu giữ lấy lại.
Theo Liên Hợp Quốc, muốn giữ mức ấm lên không quá 1,5°C thì phát thải toàn cầu phải giảm 45% vào năm 2030 và về net zero vào năm 2050. Điều 4 Thỏa thuận Paris đặt mục tiêu cân bằng phát thải và hấp thụ khí nhà kính trong nửa sau thế kỷ 21. Đến tháng 6/2024, 107 quốc gia đã cam kết net zero.
Net zero carbon và trung hòa carbon khác nhau thế nào
Net zero carbon gần với khái niệm phát thải ròng CO2 bằng 0 của IPCC, chỉ tính khí CO2. IPCC coi trung hòa carbon (carbon neutrality) và phát thải ròng CO2 bằng 0 là hai khái niệm chồng lấn, tương đương ở quy mô toàn cầu. Ở cấp một nước hay tổ chức, phát thải ròng CO2 bằng 0 thường chỉ tính phần đơn vị đó trực tiếp kiểm soát; trung hòa carbon có thể tính cả phần bên ngoài, đôi khi dùng tín chỉ bù trừ (offset).
Cam kết net zero 2050 của Việt Nam
Chiều 1/11/2021 (giờ Anh), tại COP26, Thủ tướng Phạm Minh Chính tuyên bố Việt Nam sẽ đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, bằng nguồn lực trong nước cùng hỗ trợ tài chính, công nghệ của cộng đồng quốc tế (Tạp chí Luật sư Việt Nam).
Quyết định 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu cụ thể hóa cam kết net zero 2050. Năm 2030, tổng phát thải giảm 43,5% so với kịch bản phát triển thông thường (BAU), riêng năng lượng không vượt 457 triệu tấn CO2 tương đương. Phát thải cả nước đạt đỉnh năm 2035 rồi giảm nhanh.
Năm 2050, năng lượng còn tối đa 101 triệu tấn, nông nghiệp 56 triệu, quá trình công nghiệp 20 triệu, chất thải 8 triệu. Tổng 185 triệu tấn này được bù bởi lâm nghiệp và sử dụng đất, nơi lượng hấp thụ phải vượt phát thải ít nhất 185 triệu tấn. Đó là net zero ở cấp quốc gia.
Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) năm 2022 đặt mức giảm 15,8% bằng nguồn lực trong nước, tới 43,5% nếu có hỗ trợ quốc tế, so với BAU năm 2030 (Báo Chính phủ). NDC 2026–2035 còn là dự thảo khi Ban Chỉ đạo COP26 họp ngày 14/1/2026, với hạn trình phê duyệt trong quý I/2026 (Báo Chính phủ).
| Văn bản | Nội dung | Tình trạng đến 20/10/2026 |
|---|---|---|
| Quyết định 896/QĐ-TTg | Chiến lược biến đổi khí hậu | Hiệu lực từ 26/7/2022 |
| Nghị định 06/2022/NĐ-CP | Kiểm kê, hạn ngạch, sàn các-bon | Sửa bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP và 83/2026/NĐ-CP |
| Quyết định 768/QĐ-TTg | Quy hoạch điện VIII điều chỉnh | Đang áp dụng, đang rà soát |
| Chỉ thị 10/CT-TTg | Tiết kiệm điện, điện mặt trời mái nhà | Ban hành 30/3/2026 |
Net zero Việt Nam bắt đầu từ ngành điện
Ngành điện là nơi net zero phải bắt đầu: Liên Hợp Quốc ước tính ngành năng lượng tạo khoảng ba phần tư khí nhà kính hiện nay. Theo EVN, 9 tháng đầu năm 2026 nhiệt điện than vẫn chiếm 49,9% sản lượng điện, năng lượng tái tạo chiếm 12,6%.
Quyết định 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 về Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt tỷ lệ năng lượng tái tạo (không tính thủy điện) phục vụ sản xuất điện khoảng 28–36% năm 2030, định hướng lên 74–75% năm 2050. Phát thải từ sản xuất điện khoảng 197–199 triệu tấn năm 2030, còn khoảng 27 triệu tấn năm 2050; đỉnh năm 2030 hướng tới không quá 170 triệu tấn nếu các đối tác thực hiện đầy đủ cam kết JETP (Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng).
Năm 2050 không còn dùng than để phát điện. Quy hoạch phấn đấu năm 2030 có 50% tòa nhà công sở và 50% nhà dân dùng điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu. Ngày 17/10/2026, Thông báo 531/TB-VPCP giao Bộ Công Thương hoàn thiện việc điều chỉnh tiếp quy hoạch (Báo Công Thương).
Điện mặt trời mái nhà giảm bao nhiêu CO2 mỗi kWh
Mỗi kWh điện mặt trời dùng tại chỗ là một kWh không mua từ lưới, nên CO2 tránh được bằng sản lượng nhân hệ số phát thải lưới điện. Công văn 1726/BĐKH-PTCBT ngày 3/12/2024 của Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường), công bố hệ số năm 2023 là 0,6592 tCO2/MWh, tức khoảng 0,66 kg CO2 mỗi kWh.
Theo QUACERT (23/1/2026), đến tháng 1/2026 Việt Nam vẫn chưa có hệ số chính thức của năm 2024 và 2025, nên bài dùng hệ số 2023. Bảng sau chưa trừ phát thải khi sản xuất tấm pin, xem bài điện mặt trời có gây ô nhiễm không.
| Điện mặt trời dùng thay điện lưới | CO2 tránh được (hệ số năm 2023) |
|---|---|
| 1 kWh | 0,66 kg |
| 100 kWh | 65,9 kg |
| 1.000 kWh | 659 kg |
| 10.000 kWh | 6,59 tấn |
| 1 triệu kWh | 659 tấn |
Hộ gia đình tiến tới net zero bằng điện mặt trời tự dùng
Chỉ thị 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 đặt mục tiêu mỗi năm khoảng 10% hộ gia đình và 10% cơ quan công sở lắp điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu, khuyến khích kèm hệ thống lưu trữ (BESS) để giảm phụ tải giờ cao điểm.
Lượng CO2 từ điện của một gia đình tăng theo số kWh mua từ lưới. Nên thay thiết bị tốn điện trước, rồi lắp hệ mái nhà vừa với phụ tải ban ngày; nhà dùng nhiều điện buổi tối có thể chọn hệ hybrid có pin lưu trữ.
Doanh nghiệp: kiểm kê khí nhà kính và điện mặt trời tự dùng
Theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP đã sửa đổi, cơ sở phát thải từ 3.000 tấn CO2 tương đương mỗi năm, hoặc nhà máy nhiệt điện, cơ sở công nghiệp, tòa nhà thương mại dùng từ 1.000 tấn dầu tương đương (TOE) mỗi năm, phải kiểm kê khí nhà kính. Từ năm 2030, ngưỡng phải kiểm kê và giảm phát thải theo Chiến lược quốc gia là 2.000 tấn.
Hạn ngạch phát thải thí điểm giai đoạn 2025–2026 đã được phê duyệt cho 34 nhà máy nhiệt điện, 25 cơ sở sắt thép và 51 cơ sở xi măng, riêng năm 2026 là 268.391.454 tấn CO2 tương đương (Báo Chính phủ, 10/2/2026).
Theo GHG Protocol, điện mua về tính vào phát thải phạm vi 2 (scope 2), nên điện mặt trời tự sản xuất trên mái nhà xưởng làm giảm phần này. Khách hàng dùng điện lớn thiếu mái có thể mua điện tái tạo trực tiếp từ nhà máy qua cơ chế DPPA.
LTA khảo sát miễn phí trên toàn quốc, lắp hệ hòa lưới, hybrid có pin lưu trữ hoặc hệ độc lập cho nhà ở, cửa hàng, nhà xưởng. Xem cách chọn công suất ở bài lắp điện mặt trời cho doanh nghiệp, hoặc gọi, nhắn Zalo 0981.014.340 để được khảo sát mái.
Nguồn tham khảo:
- IPCC, báo cáo AR6 nhóm I, Phụ lục VII (bảng thuật ngữ) (9/8/2021)
- Liên Hợp Quốc (UN Climate Action)
- UNFCCC, Thỏa thuận Paris (12/12/2015)
- Tạp chí Luật sư Việt Nam (2/11/2021)
- Quyết định 896/QĐ-TTg (bản PDF đăng trên vmrcc.gov.vn) (26/7/2022)
- Báo Chính phủ (bản tiếng Anh) (10/2/2026)
- Báo Chính phủ (14/1/2026)
- Công báo Chính phủ, Quyết định 768/QĐ-TTg (28/4/2025)
- Báo Công Thương (18/10/2026)
- EVN (6/10/2026)
- Công văn 1726/BĐKH-PTCBT (toàn văn trên LuatVietnam) (3/12/2024)
- QUACERT (23/1/2026)
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Nghị định 06/2022/NĐ-CP (bản cập nhật sửa đổi)
- Nghị định 83/2026/NĐ-CP (bản đăng trên cổng TP Hải Phòng) (23/3/2026)
- Bộ Công Thương (31/3/2026)
- GHG Protocol (WRI, WBCSD)
Bạn muốn lắp điện mặt trời cho nhà mình?
Gọi 0981.014.340 hoặc nhắn Zalo cùng số, gửi kèm ảnh hóa đơn điện và ảnh mái để LTA tính công suất sơ bộ và hẹn lịch khảo sát miễn phí.
Gọi 0981.014.340 Nhắn ZaloCâu hỏi thường gặp về net zero
Net zero viết tắt của từ gì?
Net zero không phải từ viết tắt mà là cách nói ngắn của net-zero emissions, tức phát thải ròng bằng 0. Văn bản pháp luật Việt Nam dùng cụm “phát thải ròng bằng 0”; IPCC phân biệt net zero CO2 và net zero khí nhà kính.
Net zero có nghĩa là không còn phát thải không?
Không. Theo Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, năm 2050 Việt Nam vẫn được phát thải tối đa 185 triệu tấn CO2 tương đương, bù bằng lượng hấp thụ ròng của rừng và đất.
Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng 0 từ khi nào?
Thủ tướng Phạm Minh Chính công bố cam kết tại COP26 chiều 1/11/2021 (giờ Anh). Mục tiêu được đưa vào Quyết định 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 và được nhắc lại tại phiên họp Ban Chỉ đạo COP26 ngày 14/1/2026.
Mỗi kWh điện mặt trời giảm được bao nhiêu CO2?
Theo hệ số phát thải lưới điện năm 2023 do Cục Biến đổi khí hậu công bố (0,6592 tCO2/MWh), mỗi kWh điện mặt trời dùng thay điện lưới tránh khoảng 0,66 kg CO2; 1.000 kWh tránh khoảng 659 kg.
Doanh nghiệp nào phải kiểm kê khí nhà kính?
Theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP đã sửa đổi: cơ sở phát thải từ 3.000 tấn CO2 tương đương mỗi năm; nhà máy nhiệt điện, cơ sở công nghiệp, tòa nhà thương mại dùng từ 1.000 TOE; công ty vận tải hàng hóa dùng từ 1.000 TOE nhiên liệu; cơ sở xử lý từ 65.000 tấn chất thải rắn mỗi năm.
